4 Đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại

Lịch sử nhân loại là sự hình thành, phát triển, hủ bại và diệt vong của rất nhiều cường quốc khác nhau trên thế giới. Dường như đó chính là quy luật của tự nhiên xã hội. Các đế chế dù mạnh yếu khác nhau, nhưng đến cuối cùng đều chung một số phận. Hãy cùng Tri Thức Mỗi Ngày điểm qua danh sách những cường quốc hùng mạnh nhất mọi thời đại trong lịch sử nhân loại.

Mông Cổ

Đầu tiên phải nhắc đến là đế chế Mông Cổ. Mông Cổ được coi là đế chế hùng mạnh nhất bởi những điều phi thường mà họ làm chưa từng xuất hiện trong lịch sử, và cũng khó tái hiện một lần nữa trong tương lai. Từ những vùng đất hoang tàn, qua nhiều thập kỷ, người Mông Cổ đã xây dựng một đế chế bất khả chiến bại. Xét về dân số, Mông Cổ chỉ là một nước nhỏ. Nhưng họ đã làm rung chuyển thế giới cách đây hơn 800 năm nhờ những thủ lĩnh xuất chúng, với một đạo kỵ binh thiện chiến, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung và có tầm nhìn thay đổi thế giới.

Ảnh: Người Mông Cổ nổi tiếng là những chiến binh trên lưng ngựa
Ảnh: Người Mông Cổ nổi tiếng là những chiến binh trên lưng ngựa

Theo Business Insider, Mông Cổ xây dựng lực lượng quân đội rất chuyên nghiệp, sáng tạo và luôn học hỏi cái mới. Các tướng quân thời đó thực sự là những kỹ sư bậc tài, sử dụng mọi công nghệ chưa từng có trong lịch sử loài người. Trong khi những đế chế khác cố chấp hoặc không chặt chẽ liên kết trong chiến đấu. Người Mông Cổ nổi tiếng với những chiến thuật chiến đấu hiệu quả. Binh lính được rèn luyện qua nhiều trận chiến quy mô nhỏ đến lớn. Thành tích chiến đấu của đội quân Mông Cổ  trong thời kỳ đỉnh cao dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn thậm chí còn được đánh giá cao hơn chiến tích của những vị chỉ huy nổi tiếng như Alexander đại đế, hay Hannibal Barca thời cộng hòa La Mã.

Lối đánh của người Mông Cổ có hai điểm nổi bật, đó là bất ngờ đánh nhanh thắng nhanh, hoặc giả thua rồi đột ngột tấn công. Cả hai chiến thuật này đều làm cho hàng ngũ của địch mất tinh thần, rối loạn. Nhiều tướng lĩnh Đông Âu đã thất trận trước chiến thuật thứ hai. Sự kết hợp giữa đội quân tinh nhuệ và chiến thuật thông minh đã làm nên nhiều chiến thắng huy hoàng cho vùng đất cao nguyên này.

Người Mông Cổ sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau. Họ chế tạo kiếm lưỡi cong giúp binh lính dễ dàng xử lý khi chiến đấu trên ngựa cũng như trên bộ. Bên cạnh kiếm thì chuỳ, búa, dao găm và đặc biệt là cung tên cũng được sử dụng rộng rãi. Trong sử sách, khả năng sáng tạo và sử dụng tên bắn của người Mông Cổ đã được công nhận. Mông Cổ nổi tiếng với loại  tên còi (một loại mũi tên rỗng tạo ra âm thanh như tiếng huýt), chủ yếu được người thủ lĩnh sử dụng để ra hiệu trong trận mạc.

Đế chế La Mã

Cường quốc thứ hai, đó chính là đế chế La Mã. Đế chế này rõ ràng có tầm ảnh hưởng lớn. Đế chế La Mã từ lâu được biết là đế chế tinh hoa tiêu biểu cho thế giới phương Tây. Nhưng tầm quan trọng của nó thì không phải do phương Tây tự nhận. Đế chế La Mã thực sự là một trong những đế chế lớn nhất của lịch sử nhân loại. Người La Mã thể hiện năng lực đáng kinh sợ trong việc chinh phục và giữ vững được một vùng lãnh thổ rộng lớn trong khoảng thời gian hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn năm, nếu tính cả đế chế Đông La Mã.

Điều đáng chú ý là đế chế này được cố kết không chỉ bằng sức mạnh bạo tàn. Một khi đã được chinh phục, người dân trong đế chế đó đều mong ước trở thành người La Mã. Điều này đồng nghĩa với việc tham dự vào một nền văn hóa tinh tế, tao nhã kinh điển. Thế giới hiện đại có một số đặc điểm kế thừa từ đế chế La Mã. Người La Mã chiếm lấy rồi phát huy nền văn hóa bản địa của Hy Lạp, truyền lại cho thế hệ sau nền kiến trúc, triết học và khoa học của Hy Lạp. Người La Mã sau khi theo Kitô giáo đã nâng tôn giáo này từ một giáo phái nhỏ trở thành một trong những tôn giáo lớn nhất trên thế giới. 

Ảnh: Nhà hát La Mã, công trình nổi tiếng vẫn còn tồn tại tới ngày nay
Ảnh: Nhà hát La Mã, công trình nổi tiếng vẫn còn tồn tại tới ngày nay

Luật La Mã cũng ảnh hưởng đến tất cả những hệ thống pháp lý sau này của thế giới phương Tây. Các thể chế La Mã cũng truyền cảm hứng cho hệ thống chính quyền của nhiều quốc gia hiện đại. Mặc dù Hy Lạp nổi tiếng là nơi khai sinh ra chế độ dân chủ, nhưng những người sáng lập ra nước Mỹ chủ yếu chịu ảnh hưởng thực tiễn từ nước Anh và La Mã. Trên thực tế, nhiều vị trong số đó thường bày tỏ mình không thích cuộc thử nghiệm dân chủ ở Athens, đồng thời bày tỏ sự ngưỡng mộ hình thức quản trị hỗn hợp của La Mã, nơi mà thành phần quân chủ quý tộc và dân chủ cùng chia sẻ quyền lực. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập của Mỹ gần gũi với sự phân chia thể chế của La Mã. Khi cộng hoà La Mã chuyển thành đế chế La Mã, ý tưởng và quyền hành của Caesar đã truyền cảm hứng cho những bậc cai trị sau này.

Người La Mã là một dân tộc kiên cường, họ có khả năng phục hồi sau vô số bức thụt lùi, tập hợp lại rồi đánh bại kẻ thù. Mặc dù vị tướng Carthage là Hannibal gần như phá huỷ hoàn toàn La Mã sau trận chiến Cannae năm 216 trước Công Nguyên. Người La Mã cuối cùng vẫn có thể phái một đội quân tới Carthage để đánh bại thành bang vào thời điểm 14 năm sau đó. Về mặt quân sự, các đội quân lê dương của La Mã thống trị trong nhiều thế kỷ, giúp La Mã thống trị gần như tất cả những nền văn minh khác ở Địa Trung Hải và Ấn Độ, ngoại trừ đế chế  Ba Tư trong hàng trăm năm, và chỉ phải đối mặt với một số cuộc đột kích nhỏ của các bộ lạc kém tổ chức. Đế chế La Mã thực sự sụp đổ chủ yếu là do khủng hoảng bên trong và nội chiến, hơn là do cuộc xâm chiếm của những bộ tộc German. Đế Chế Đông La Mã kéo dài tới năm 1453, mang lại cho lịch sử chính trị của nhà nước La Mã một tuổi thọ lớn hơn hai thiên niên kỷ.

Đế Quốc Anh

Một điều không thể phủ nhận, Châu Âu luôn cho thấy sức mạnh của họ về mọi mặt, từ kinh tế, chính trị cho đến quốc phòng, quân sự. Và chắc chắn, trong danh sách những cường quốc hùng mạnh nhất thế giới qua các thời đại trong lịch sử, hay ngay cả ở hiện tại, thì đều không thể thiếu những cái tên đến từ châu lục này. 

Cái tên đến từ Châu Âu đầu tiên, đó là Đế Quốc Anh. Từng một thời là đệ nhất đế quốc. Đế Quốc Anh bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ uỷ thác và những lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế Quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 18. Giai đoạn đỉnh cao, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế Quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó, và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km vuông, bằng 1/4 tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế Quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt đến đỉnh cao của quyền lực, Đế Quốc Anh thường xuyên được ví với câu nói “đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn”, bởi vì sự mở rộng lãnh thổ ra toàn địa cầu, đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Ảnh: Bản đồ thuộc địa Anh, nơi mà "mặt trời không bao giờ lặn"
Ảnh: Bản đồ thuộc địa Anh, nơi mà “mặt trời không bao giờ lặn”

Trong suốt thời đại khám phá vào thế kỷ 15 và 16, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia Châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới. Và trong quá trình đó, họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan đã bắt đầu thiết lập các thuộc địa và mạng lưới mậu dịch của họ tại Châu Âu và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ 17, 18 đã giúp Anh trở thành cường quốc, chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời uy thế của nước Anh và cả Pháp bị hạn chế tại Châu Âu.

Sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của những cường quốc phía đông như Phổ, Áo và Nga. Sự kiện 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ giành được độc năm 1783, sau cuộc chiến tranh cách mạng Mỹ, khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó, nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang Châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong chiến tranh cách mạng Pháp và chiến tranh Napoleon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica – Thái Bình Anh Quốc – một giai đoạn mà Châu Âu và thế giới tương đối thái bình từ 1815 đến 1914. Đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu, và trở thành người canh giữ hòa bình thế giới.

Vào đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu biến đổi nước Anh. Tại thời điểm diễn ra cuộc triển lãm năm 1851, nước Anh được ca ngợi là công xưởng của thế giới. Đế Quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi, và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với những thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại thế giới, đồng nghĩa với việc nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác ở Châu Á và Mỹ La Tinh. Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại, cùng chính sách tự do và phổ cập hóa đặc quyền bầu cử.

Vào thế kỷ 19, dân số nước Anh gia tăng mạnh mẽ, cùng với đó là quá trình đô thị hóa nhanh chóng, gây nên những căng thẳng nghiêm trọng, cả về kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm thị trường và những nguồn tài nguyên mới, đảng bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị. Một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.

Đến đầu thế kỷ 20, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòn phần nào vị thế dẫn đầu kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh tập trung vào mối quan hệ phức tạp nhưng chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ. Nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự đã khiến quan hệ với Đức ngày càng trở nên xấu đi, và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Trong thời kỳ diễn ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình, về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về quân sự, tài chính, nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến, cương thổ của Đế Quốc Anh được mở rộng tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. 

Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, các thuộc địa của anh tại Đông Nam Á lần lượt bị Nhật Bản chiếm đóng, đã làm cho uy tín của Đế Quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn dân thuộc địa của Đế Quốc Anh giành được độc lập, như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc Châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 

14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh. Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập thịnh vượng chung các quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 Quốc gia có chung một nguyên thủ, nữ vương Elizabeth II, đó là vương quốc khối thịnh vượng chung.

Đế quốc Mỹ

Và cái tên cuối cùng trong danh sách cường quốc, không thể thiếu, đó là đế quốc Mỹ. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ là một thuật ngữ nói về sự bành trướng chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa của Hoa Kỳ. Khái niệm đế quốc đầu tiên được phổ biến rộng rãi từ kết quả của cuộc chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ vào năm 1898. Nguồn gốc và sự ủng hộ khái niệm này đến từ những người theo trường phái cổ điển Marxist, rằng chủ nghĩa đế quốc là một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, cho tới những lý thuyết gia hiện đại của trường phái tự do và bảo thủ, khi họ nghiên cứu và phân tích chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc đầu tiên được dùng để nói đến những vấn đề liên quan tới Napoleon, và cũng được dùng khi nói về chính sách ngoại giao của Anh. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi hơn trong thế kỷ 19, nó lần đầu được sử dụng phổ biến để nói về Hoa Kỳ bởi tổ chức liên minh Hoa Kỳ chống đế quốc, được thành lập năm 1898 để chống chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ và chiến tranh Philippines – Mỹ.

Ảnh: Tượng Nữ Thần Tự Do, biểu tượng dân chủ của nước Mỹ
Ảnh: Tượng Nữ Thần Tự Do, biểu tượng dân chủ của nước Mỹ

Kể từ sau thế chiến thứ 2, các đời tổng thống Mỹ luôn duy trì chính sách can thiệp vào nội bộ những quốc gia khác, thậm chí là sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để tấn công những nước khác. Từ năm 1946 đến 2015, quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tấn công 9 quốc gia: Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Grenada, Afghanistan, Iraq, Nam Tư, Panama và Cuba, gây ra cái chết của 10 tới 15 triệu người. Tổng cộng Hoa Kỳ đã trực tiếp và gián gây ra cái chết của khoảng 20 đến 30 triệu người trong các cuộc chiến tranh và xung đột xảy ra trên khắp thế giới từ 1946 đến 2015.

Mỹ chắc chắn là quốc gia mạnh nhất thế giới hiện nay xét về mặt quân sự. Mỹ kết hợp tài năng thương mại của người Anh, với chủ nghĩa tự do và các nguồn lực cấp độ lục địa. Giống với người La Mã, người Mỹ có nền văn hóa hấp dẫn. Giống người Mông Cổ, Mỹ có thể tung ra các đoàn hủy diệt. Tương tự với người Arab, Mỹ lan truyền một ý thức hệ phổ quát toàn cầu. Như đế chế Ba Tư, Mỹ kết hợp các nền văn hóa khác nhau và kết nối các khu vực lại. Với tất cả lý do này, Mỹ có một tương lai dài phía trước với tư cách là một cường quốc lớn.

Thế nhưng, Mỹ cần phải nhớ lại những bài học của các đế chế ngày xưa, nếu không muốn lập lại sai lầm của họ. Bất chấp việc có một đội quân hùng mạnh, thành La Mã vẫn thất thủ. Sự chia rẽ và lục đục trong nội bộ có thể tiêu diệt cả những đế chế mạnh nhất. Người Ba Tư bị chinh phục không phải do họ yếu, mà do giới lãnh đạo của họ thất bại. Mặc dù người Mông Cổ giành chiến thắng trong chiến tranh, nhưng họ lại không thể giành chiến thắng trong thời bình, và cuối cùng không duy trì được chế độ lâu dài của mình ở bất cứ đâu. Người Arab tạo ra một nền văn minh rực rỡ, nhưng những kẻ mới đến đã hấp thụ các mặt tích cực của họ và đẩy họ xuống chiếu dưới. Cuối cùng, người Anh đã kiệt sức khi ôm đồm làm quá nhiều thứ cùng một lúc, cố gắng giương cao lợi ích của họ, trật tự toàn cầu và hệ thống Châu Âu.

Chia sẻ: